PHỤNG VỤ - HỌC HỎI
Các biểu tượng và việc huấn giáo

I. BIỂU TƯỢNG CHỈ THỰC TẠI VƯỢT LÊN TRÊN BIỂU TƯỢNG
“Trong đời sống con người, các dấu chỉ và các biểu tượng chiếm một vị trí quan trọng. Con người, một hữu thể vừa thể xác vừa tinh thần, diễn tả và cảm nhận các thực tại tinh thần nhờ các dấu chỉ và các biểu tượng vật chất. Với tính cách là hữu thể có tính xã hội, con người cần các dấu chỉ và các biểu tượng để giao tiếp với tha nhân qua ngôn ngữ, cử chỉ, hành động. Tương quan giữa con người với Thiên Chúa cũng thế. Thiên Chúa nói với con người qua thụ tạo hữu hình. Vũ trụ vật chất phô diễn trước trí tuệ con người để con người đọc được nơi vũ trụ những dấu vết về Đấng Sáng Tạo. Ánh sáng và bóng tối, gió và lửa, nước và đất, cây cối và hoa trái đều nói về Thiên Chúa, và là biểu tượng thể hiện sự cao cả và gần gũi của Thiên Chúa. Vì được Thiên Chúa tạo dựng, các thực tại khả giác này có thể trở thành phương tiện diễn tả hoạt động của Thiên Chúa thánh hóa con người và hoạt động của con người thờ phượng Thiên Chúa. Cũng vậy, các dấu chỉ và các biểu tượng trích xuất từ đời sống xã hội - như tẩy uế, xức dầu, bẻ bánh và uống chung ly rượu - có thể diễn tả sự hiện diện thánh hóa của Thiên Chúa và bày tỏ lòng biết ơn của con người đối với Đấng Sáng Tạo” (GLHTCG 1145-1148).
Như con người vừa là thể xác vừa là tinh thần, biểu tượng nào cũng có hai mặt: vật chất và tinh thần - thực tại cụ thể chuyển tải chân lý vô hình. Động từ sym-ballo trong tiếng Hy lạp nghĩa là “ráp lại với nhau”. Ban đầu, symbolon nghĩa là tín vật nhằm giúp nhận ra nhau. Chính xác hơn, symbolon là hai tín vật có thể ráp khớp với nhau thành một để chỉ mối liên hệ huyết thống hoặc tình nghĩa giữa hai người giữ hai tín vật này. Như thế, biểu tượng giúp chúng ta qua lại giữa hai thực tại vật chất và tinh thần. Nối kết vật chất với tinh thần, các biểu tượng làm cho nhân vị chúng ta nên một toàn thể, nhờ vậy chúng ta có thể giao tiếp với nhau và với Thiên Chúa.
Kitô giáo là tôn giáo có nền tảng là mầu nhiệm nhập thể của Đức Kitô, Đấng vừa là Thiên Chúa vừa là con người, Đấng làm trung gian cho chúng ta được ơn cứu độ. Đức Kitô mặc lấy thân phận con người để chúng ta có thể tiến vào sự sống của Thiên Chúa. Mọi biểu tượng Kitô giáo đều quy hướng về ý tưởng thần học then chốt này và có đỉnh cao là các bí tích. Các bí tích đều có phương diện khả giác. Ngoài lời đọc nghe thấy được và cử chỉ nhìn thấy được, phụng vụ còn cho ta ngửi mùi trầm hương và nếm rượu, ăn bánh. Xúc giác cũng có mặt ở việc đặt tay và việc xức dầu. Thiên Chúa tự tỏ lộ cho ta ở những thời điểm quan trọng của cuộc đời ta, và tôn giáo mà Thiên Chúa cho ta sống luôn là một tôn giáo rất nhân bản. Thánh Gioan Đamát Sênô, người bảo vệ ảnh tượng thánh ở thế kỷ 8, đã tóm tắt nền tảng mầu nhiệm nhập thể của ảnh tượng và khía cạnh nhân bản của bí tích như sau: “Người xưa không thể khắc họa hình ảnh Thiên Chúa, Đấng không có hình thể hoặc thân xác. Nhưng ngày nay, khi con người nhìn thấy Thiên Chúa bằng xương bằng thịt trò chuyện với nhân loại, thì tôi họa tạc hình ảnh của Thiên Chúa mà tôi nhìn thấy. Tôi không thờ phượng vật chất. Tôi thờ phượng Đấng tạo nên vật chất và trở thành vật chất vì tôi. Chính Ngài dùng vật chất mà làm nên phần rỗi cho tôi” (Về các ảnh tượng, 17).
Một trong những mục đích quan trọng của huấn giáo dự tòng và huấn giáo nói chung là giúp người ta thờ phượng với sự hiểu biết đầy đủ về phụng vụ, nghĩa là không thể thiếu sự hiểu biết về các biểu tượng. Các biểu tượng không luôn luôn tự nói lên hết các ý nghĩa. Ngôn ngữ biểu tượng cũng có “từ vựng” và “ngữ pháp” để con người trau dồi và nắm vững nhờ công khó.
Ví dụ, nhờ biểu tượng nước, chúng ta nhận biết được nhiều điều về Thiên Chúa và công cuộc cứu độ của Ngài: nước là nguồn mạch và tiềm năng của sự sống do Thiên Chúa ban tặng (Lv 26.4; Am 4.7; Đn 11.14; Jn 19-34); nước chỉ phúc lành, phần thưởng (St 27.28; Tv 133.3) và cũng chỉ tai họa, hình phạt, sự chết (Tb 12.15; Tv 124; 2P 2.5); nước thanh tẩy (Ez 16.4-9; St 18.4; Tv 26.6; Lv 16.4,24; Mt 27.24; 3.11; Lc 11.40; 1Cr 6.11); nước nói lên sức sống do Chúa Thánh Thần trao ban (Jn 7.39; Tt 3.5). Thừa lệnh Đức Kitô, Giáo Hội Công giáo luôn dùng nước làm chất thể trong bí tích Rửa tội (Jn 3.5). Và noi gương Đức Kitô, Giáo Hội duy trì thói quen lấy nước rửa chân vào ngày Thứ Năm Tuần Thánh. Máu và nước từ thương tích ở cạnh sườn Chúa Giêsu đổ ra đã được giải thích theo nhiều cách khác nhau. Đó là biểu tượng chỉ các bí tích, nhất là bí tích Rửa tội và bí tích Thánh Thể: chúng ta được tái sinh trong nước Rửa tội, và rượu được thánh hiến trong bí tích Thánh Thể trở thành Máu Chúa Giêsu nuôi dưỡng chúng ta. Người ta cũng thấy máu và nước này là dấu hiệu chỉ ơn Chúa Thánh Thần và là dấu hiệu chỉ sự khai sinh ra Giáo Hội từ cạnh sườn rộng mở của Chúa Giêsu.
Tài liệu huấn giáo nên có khía cạnh trau dồi “từ vựng” biểu tượng theo ba bước:
1) Giáo lý viên suy tư về những trải nghiệm cá nhân liên quan đến một biểu tượng nào đó (như nước, lửa hoặc dầu);
2) Học viên được trợ giúp suy tư về những trải nghiệm của chính họ liên quan đến biểu tượng ấy;
3) Trải nghiệm của chúng ta được liên kết với trải nghiệm của Hội Thánh (Thánh kinh và Thánh truyền).
II. BIỂU TƯỢNG VÀ NGHỆ THUẬT THÁNH CŨNG LÀ SÁCH GIÁO LÝ
Năm 2005, Đức giáo hoàng Biển Đức XVI ban hành sách Toát yếu Giáo lý của Hội thánh Công giáo. Sách giáo lý thu nhỏ này có mười bốn tác phẩm nghệ thuật thánh. Trong phần giới thiệu, Đức thánh cha cắt nghĩa: “Các tranh ảnh này được rút từ gia sản phong phú của nghệ thuật tranh ảnh thánh của Kitô giáo. Từ truyền thống cả nghìn năm của các Công đồng, chúng ta học biết rằng tranh ảnh cũng là một cách rao giảng Tin Mừng. Các nghệ nhân của mọi thời đại trình bày cho các tín hữu chiêm ngắm và kinh ngạc trước những sự kiện nổi bật của mầu nhiệm cứu độ với sự huy hoàng của màu sắc và vẻ đẹp tuyệt vời. Đó là một dấu chỉ cho thấy tranh ảnh thánh, trong văn hóa hình ảnh ngày nay, có thể diễn tả nhiều hơn là ngôn từ, vì trong sự sinh động của nó, sứ điệp Tin Mừng sẽ có nhiều hiệu quả hơn khi được diễn tả bằng ngôn từ và được tiếp tục truyền đạt”.
Trong mấy thập niên gần đây, đã có sự giảm bớt đáng kể về ảnh tượng thánh và biểu tượng thánh trong các thánh đường, nghĩa là giá trị huấn giáo của nghệ thuật và kiến trúc thánh đã bị coi thường. Sách Toát yếu Giáo lý của Hội thánh Công giáo sử dụng các ảnh nghệ thuật thánh như một lời mời gọi các kiến trúc sư, họa sĩ, điêu khắc gia, giáo lý viên, giám mục, linh mục và phụ huynh nhìn lại mối tương quan giữa nghệ thuật và việc huấn giáo.
Mục đích của huấn giáo là “để làm phát triển một đức tin còn non mới và để làm cho đời sống đức tin Kitô giáo của các tín hữu, trẻ cũng như già, được tiến triển đến mức trọn vẹn cũng như được bồi bổ hàng ngày” (Catechesi
